Làm sao để dưỡng Tinh - Khí - Thần: Tam Bảo của con người

Làm sao để dưỡng Tinh – Khí – Thần: Tam Bảo của con người

Mục lục

  • Tinh
  • Khí
  • Thần
  • Dù bạn theo tôn giáo nào, tu luyện pháp môn gì nhưng hễ không đủ ba yếu tố, tính chất Tinh – Khí – Thần chính trong cơ thể mình thì sẽ bị hoại diệt. Ba ngôi quý báu của đời người chính nằm ngay trong bản thể sinh mệnh mình chứ chẳng là ai khác, chẳng ở đâu khác.

    Trong giới luyện khí công cũng thường hay đề cao tam bảo là ba báu vật của con người, nhất là khi luyện công: tinh, khí, thần.

    Mục lục

    Tinh

    Là phần tinh hoa của con người là cốt lõi của khí tiên thiên (do cha mẹ tạo ra) và khí hậu thiên (do ăn uống và hít thở dưỡng khí) kết hợp mà thành, không nên làm tiêu hao tinh lực trong các trò ăn chơi sa đọa, đặc biệt là đam mê nữ giới là điều úy kỵ trong khi luyện công và dễ làm tiêu hao cạn kiệt tinh lực.

    Khí

    Là phần thăng hoa do luyện tập làm Tinh hóa Khí, là nguồn năng lực nội sinh (Internal Power) nguyên ủy từ gió (cung Tốn) phía trên lồng ngực đưa xuống thổi bùng lửa ở Tâm hỏa (Tim) và huyệt Mệnh Môn (ngang giữa thắt lưng) hóa Tinh ở bể Thận là vùng Bàng Quang (Bọng đái) và Đan Điền (dưới rốn 3 phân) thành Khí bay lên tạo ra năng lượng cơ thể. Do vậy khi ngồi luyện thở (khí công) hay Thiền lâu ta có cảm giác có luồng hơi nóng xuất hiện ở bụng dưới (huyệt Đan Điền) và vùng giữa bụng là như thế.

    Thần

    Là trạng thái cao nhất của năng lực nội sinh, cho nên sách nói luyện Thần hoàn hư là luyện cho Khí luân lưu khắp châu thân để tạo nên vận động có khí lực mạnh mẽ và hình hài có phong thái tinh anh.
    Tinh – Khí – Thần của con người thường được ví như ngọn đền dầu, nếu dầu tiêu hao hoang phí, tất ngọn đèn cũng giống như đèn treo trước gió, sinh mạng hiểm nguy, chết lúc nào không biết, mấy lời khuyến cáo những người ham mê sắc dục nữ giới và có lối sống vô độ phóng túng là lời cổ nhân truyền lại không phản khoa học chút nào là vậy.

    Tinh – Khí – Thần có sự chuyển hóa mầu nhiệm từ thô đến tế, rồi ngược lại tế chi phối lại thô của sự sống cơ thể.
    Thực phẩm màu xanh (diệp lục tố) khi nạp vào cơ thể gọi là dưỡng khí, biến hóa thành huyết (đỏ). Huyết biến thành tinh (trắng). Tinh là vật chất quý giá, là tinh túy, cốt yếu của cơ thể; nếu tinh sung mãn thì nội lực sung mãn và chuyển thành vệ khí để chống ngoại tà, cho nên tinh chuyển hóa thành khí. Khái niệm khí của con người bao hàm rất nhiều từ vật chất thô đến tế trong bản thể sinh mệnh: Chánh khí, hào khí, nguyên khí, sinh khí, dinh khí, vệ khí chỉ cho bề tốt, nhưng tà khí, hư khí, trược khí, ám khí, độn khí, hoại khí, tử khí chỉ cho bề xấu. Cho nên từ vật thô đến tế là một sự chuyển vận mầu nhiệm của cơ thể. Biết luyện khí sẽ sinh ra thần. Khái niệm thần được hiểu như là hào quang bao phủ bản thể sinh mệnh: Thần thái, thần lực, thần sắc, thần khí, định thần, thần thông… là chỉ cho sự tích cực tốt đẹp của phần tâm; nhưng thất thần, loạn thần là tiêu cực. Thần này cũng chính là cốt cách, phong thái, đạo mạo, tâm thái gọi chung là tinh thần. Cả hai vòng xoay thuận và nghịch chuyển vận của Tinh – Khí – Thần đều có tác dụng hổ tương mật thiết quyết định đến bản thể sinh mệnh, quyết định mọi lạc thọ hay khổ thọ của đời người và cả quyết định đến sự tiến hóa cao thượng.

    Để bảo vệ, giữ gìn hay tu luyện cho Tinh – Khí – Thần được tốt, nó không phải là tín ngưỡng hay đạo đức mà là nguyên lý. Nếu không hiểu, không nắm nguyên lý này thì bất kể ai cũng phải thân tàn, tâm hoại.
    Trước khi làm tiên thánh, hay Phật thì con người vẫn là căn bản. Con người căn bản tốt thì sẽ được tiến hóa lên, bằng không thì tiêu bại đọa lạc. Bằng nhiều cách khác nhau, các chân nhân ngày xưa đã nhắc nhở người đời biết đến tam bảo đời người.

    – Danh sư Tuệ Tĩnh với triết lý “Thuốc Nam, chữa người Nam” cũng đã nhấn mạnh tác dụng việc rèn luyện thân thể và sinh hoạt điều độ. Ông nêu phương pháp dưỡng sinh tóm tắt trong 14 chữ: Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình

    Thanh tâm nghĩa là tâm trí luôn trong sáng, loại bỏ lục dục thất tình, cổ nhân nói : “Đa dâm bại tâm” là vậy. Kẻ ham mê sinh hoạt xác thịt với nữ giới sẽ dẫn đến tâm thần u mê ám chướng, trí óc dễ dãi và ngu muội.

    Quả dục, nghĩa là phải tiết chế tất cả ham muốn mà không riêng gì ham muốn sinh hoạt với nữ giới.

    Thủ chân, nghĩa là phải giữ chân tâm không đi vào con đường tội lỗi, nghiệp chướng tà đạo mà tạo vòng nhân quả cho thân tâm cản trở trên bước đường hành công tâm pháp.

    Luyện hình, năng luyện tập chuyên cần để hình vóc luôn khoẻ mạnh mau đạt công phu.

    Những nhắc nhở dễ hiểu nhất của người xưa là: Ít sắc dục để dưỡng tinh, ít nói năng để dưỡng khí, ít tư lự để dưỡng thần.

    – Thái Ất Chân Nhân nói:

    1. Ít nói năng để dưỡng Nội Khí
    2. Kiêng sắc dục để dưỡng Tinh Khí
    3. Bớt ăn hăng mạnh để dưỡng Huyết Khí
    4. Đừng nhổ nước bọt để dưỡng Tạng Khí
    5. Chớ giận hờn để dưỡng Can Khí
    6. Chớ ăn quá độ để dưỡng Vị Khí
    7. Ít lo lắng để dưỡng Tâm Khí
    8. Tránh tà tâm để dưỡng Thần Khí.

    – Đông y học cổ truyền cho thấy sự liên hệ giữa thân và tâm rất mật thiết. Biết sự liên hệ giữa thân và tâm là biết tu dưỡng cho Tinh – Khí – Thần ổn định và mạnh mẽ.

    1. Không vui quá hại tim
    2. Không buồn quá hại phổi
    3. Không tức quá hại gan
    4. Không sợ quá hại thần kinh
    5. Không suy nghĩ quá hại tỳ
    6. Xua tan hoài niệm cay đắng bằng tha thứ và lãng quên
    7. Với người cao tuổi tránh tranh luận hơn thua.

    – Phật giáo luôn cảnh tỉnh về thất tình lục dục não loạn thân tâm như sau:

    1.Thất tình: Bảy thứ tình cảm mà mỗi chúng ta đều có như: Vui mừng, giận dữ, buồn bã, vui vẻ, yêu thương, ghét và ham muốn hay nói cách khác là hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố và dục vậy.

    Bảy trạng thái tâm lý nầy luôn luôn tiềm ẩn ở nơi tâm thức chúng ta, hễ khi nào gặp một cơ hội thuận tiện, tự nhiên cái tình cảm ấy sẽ hiện nguyên ra bên ngoài như bộc lộ ra nơi nét mặt hay nơi cử chỉ, trong lời nói v.v… Như khi vui, người ta có bộ mặt tươi tắn, lúc buồn mặt ủ dột, lạnh nhạt. Còn giận thì mặt tái mét, xanh xao; yêu thương mặt đỏ, nóng bừng v.v… Một trong 7 thứ tình cảm trên thái quá cũng khiến cho tâm sinh lý con người xáo trộn mất quân bình và gây ra những hành động thiếu ý thức và tai hại. Để đối trị lại với thất tình, Phật giáo đưa ra Thất-giác-chi tức là 7 điều hiểu biết đúng đắn là: Chọn lựa phương pháp, chuyên cần, mừng vui, nhẹ nhàng, suy nghĩ, định tĩnh tâm thức và xã bỏ những ý tưởng thấp hèn.

    2.Lục dục: là 6 điều ham muốn đã trở thành thói quen khó sửa đổi:

    -Sắc dục: Thấy các sắc xanh, vàng, đỏ, trắng và hình sắc nam nữ rồi tham đắm vào đó.

    -Hình mạo dục: Thấy hình dung đoan chánh, tướng mạo tốt đẹp mà sanh lòng tham đắm.

    -Uy nghi tư thái dục: Thấy tướng đi, đứng, nằm ngồi, nói cười mà sanh lòng ái nhiễm.

    -Ngữ ngôn âm thanh dục: Nghe tiếng nói trau chuốt êm ái thích ý vừa lòng, giọng ca lảnh lót, tiếng nói dịu dàng mà sanh lòng yêu mến.

    -Tế hoạt dục: Thấy da thịt của nam nữ mịn màng, trơn láng mà sanh lòng yêu mến.

    -Nhân tượng dục: Thấy hình nam nữ dễ thương mà sanh lòng đắm trước.

    Thế gian là giả huyễn, vô thường, vô ngã, sanh sanh diệt diệt. Khi nhân duyên hòa hợp thì vạn pháp sanh và khi nhân duyên tan rã thì vạn pháp diệt cho nên tuy vạn pháp sanh sanh diệt diệt, diệt diệt sanh sanh mà chúng ta vẫn luôn luôn tự tại trước sự sanh diệt, diệt sanh nầy. Nếu biết áp dụng huyền nghĩa của đoạn kinh nầy vào trong cuộc sống, con người sẽ không còn chấp Tướng tức là chấp vào hình sắc, âm thanh, ngôn ngữ, lời nói, văn tự…thì cuộc sống sẽ an vui tự tại, không còn ràng buộc khổ đau. Nếu không chấp vào hình tướng thì con người sẽ không còn quan trọng đến nhà sang, xe đẹp, áo lụa quần là, se sua chưng diện xa hoa…mà chỉ cần đứng đắn chỉnh tề, tâm tư thanh thoát và ung dung tự tại. Nếu không chấp âm thanh, lời nói, văn tự vì chúng là giả huyễn, là sinh diệt thì con người sẽ dững dưng trước lời khen tiếng chê và xem những tiếng thị phi như gió thoảng ngoài tai mà hướng tâm thanh tịnh để thấy rằng:”Nhất thế sắc giai thị Phật sắc, nhất thế thanh giai thị Phật thanh” nghĩa là nếu có tâm thanh tịnh thì tất cả hình tướng đều là hình tướng Phật và tất cả âm thanh đều là âm thanh Phật.

    Thất tình lục dục ví như những cục nam châm lúc nào cũng muốn hút con người vào trong quỷ đạo đam mê tham đắm sắc dục mà không có lối thoát. Bây giờ có Tỉnh thức Chánh niệm thì tâm liền bừng sáng nên sống với tánh giác thanh tịnh của mình. Một khi tâm đã thanh tịnh thì cũng cái thế giới mà người đời gọi là “thất tình lục dục” đó, nhưng đối với ta thì bình yên thanh thản, không còn cái gì quyến rũ nữa.

    – Học thuyết âm dương của y học cổ truyền chứng minh con người là một chỉnh thể giữa âm dương, giữa khí và huyết. Luôn luôn thăng bằng với nhau từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong theo một quy luật nhất định, để duy trì sự sống của con người được bền vững dài lâu.

    Như vậy có thể thấy rằng các giới luật và nguyên lý trong luyện công vận khí của võ thuật có nguyên ủy xuất phát xa gần với các phương pháp và giáo lý của tôn giáo không mấy xa lắm. Đây không phải là một phạm trù đạo đức thuần túy mà nó liên quan đến nguyên lý luyện công, hành công tâm pháp mau đạt hiệu quả công phu.

    Tinh – Khí – Thần kiện khang tức nội lực sung mãn. Nội lực sung mãn ắt ngoại tà bất xâm. Đời người ổn định, tiếp tục tu tâm dưỡng tánh thì đạo lộ thánh hóa rất dễ dàng. Mọi não phiền, khổ đau, bệnh tật tiêu tan.