Những câu Thần chú Phật Giáo phổ biến

Thần chú Phạt Giáo mang lại cho chúng ta sự bình tĩnh, tự tại, thăng bằng và thoải mái khi gặp khó khăn. Khi trì tụng thần chú, chúng ta nên giữ cảm giác tích cực, hoan hỷ và cống hiến, hồi hướng công đức ấy cho tất cả chúng sinh được giác ngộ và an lạc, như là một hành động từ bi cao cả.

Cách đây hơn 2.500 năm, khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra ở Ấn Độ, thời đó ngôn ngữ được dùng là tiếng Sanskrit (tiếng Phạn). Vì vậy thần chú mà chúng ta trì tụng hầu hết đều là tiếng Sanskrit, chỉ 1 số ít được trì bằng ngôn ngữ Tây Tạng [Tibetan].

Khi trì chú, chúng ta nên để cho tâm được tập trung nhưng vẫn giữ trạng thái thật thư giãn, thả lỏng và không nghĩ tới bất cứ điều gì khác. Chỉ cần tập trung tâm cho việc trì tụng thần chú. Nên nhớ rằng, dù tu tập theo phương pháp gì đi nữa thì điều quan trọng nhất luôn được đề cập và nhấn mạnh trong Phật giáo vẫn là nên làm những điều thiện và luôn tránh xa điều ác!

Dưới đây là 1 số câu thần chú Phật giáo phổ biến:

1. Lục Tự Đại Minh chú của Quán Thế Âm Bồ Tát 

OM MANI PADME HUM
Đọc là: Ôm Ma-ni Pê-mê Hung.

Thần chú Sáu Âm này là tinh tuý của tâm Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cao quý, người luôn dõi theo chúng sinh trong sáu cõi với lòng từ bi. Vì thế, tụng chú này sẽ giải thoát các chúng sinh khỏi luân hồi.

2. Thần chú của Đức Tara Xanh 

OM TARE TUTTARE TURE SOHA 
Đọc là : Ôm Ta-rê Tu-ta-rê Tu-rê Soha

OM TARE TUTTARE TURE SOHA, dịch nghĩa là:

“Om”: Đại diện cho sự giác ngộ về thân, ngữ (khẩu) và ý.

“Tare”: Giải thoát khỏi luân hồi.

“Tutare”: Giải thoát bạn khỏi tám nỗi sợ hãi xuất phát từ sự thiếu hiểu biết, tham, sân, kiêu ngạo, ghen ghét, tham lam, nghi ngờ và tà kiến.

“Ture”: Giải phóng khỏi khổ đau, giải thoát chúng ta khỏi các nguyên nhân thực sự làm rối loạn suy nghĩ, làm ta đau khổ thực sự.

“Soha”: khơi gợi Phật tánh, Bồ Đề tâm trong trái tim bạn..

Tụng thần chú của Tara Xanh sẽ giúp vượt qua nỗi sợ hãi và giận dữ, bảo vệ chúng ta khỏi những chướng ngại cũng như tăng trưởng những ước nguyện một cách nhanh chóng.

Đây là câu thần chú chứa đựng toàn bộ hạnh nguyện của Bồ Tát Tara xanh. Ngài Tara là hiện thân lòng từ bi của chư Phật ba thời, quá khứ, hiện tại và vị lai. Ngài là vị Thánh nữ có khả năng thực hiện và hoàn thành mọi hoạt động giác ngộ của chư Phật.

3. Thần chú của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát

OM A RA PA TSA NA DHIH 
Đọc là: Ôm A Ra-pa Sa Na Đi

“Om”: Đại diện cho sự giác ngộ về thân, ngữ (khẩu) và ý. Là một âm tiết thiêng liêng và huyền bí bắt nguồn từ Ấn Độ, thường được thấy trong những thần chú Phật giáo.

Ah: Thể hiện sự hiểu biết trực tiếp về bản chất của sự vật và hiện tượng.

Ra: Thể hiện sự hiểu biết về sự trống rỗng từ quan điểm của các tổ sư đạo Phật Nguyên Thuỷ.

Pa: Đại diện cho thiền định.

Tsa: Thể hiện tầm quan trọng của Niết bàn và Luân hồi.

Na: Thể hiện nghiệp (hành động).

Dhi: Điều này thường được giải thích là “sự hiểu biết” hoặc “sự phản chiếu”.

Niệm Thần chú này tăng thêm trí tuệ, khả năng biện luận, nhớ, viết…

Khi niệm, âm “Dhih” của câu chú cần được nhấn mạnh.

4. Câu tâm Chú Chuẩn Đề

OM CALE CULE CUNDI SOHA
Đọc là: Ôm Ca-lê Cu-lê Cun-đi Soha

Om: Một từ thiêng liêng trong Ấn Độ giáo. Nó được coi là một biểu tượng âm thanh ban đầu của vũ trụ.

Cale: Một biến thể của tên Cundi

Cule: Một biến thể khác

Cundī: Sự tinh khiết của Phật Mẫu Chuẩn Đề

Svāhā: Có thể đó là sự thật!

[Hay bản dịch tiếng Hán là: Án chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề ta-bà-ha].

Từ xưa người ta đã quen vẽ 9 chữ thần chú Chuẩn Đề thành 1 vòng tròn để thờ trong nhà và hàng ngày trì tụng để mang lại những kết quả tốt đẹp, linh nghiệm trong cuộc sống.
Câu chuyện ”Liễu Phàm Tứ Huấn” có nói về người trì chú Chuẩn Đề và tới ngày ứng nghiệm ra sao.

5. Câu Tâm Chú Lăng Nghiêm: Để hàng phục ma quỷ như trong kinh Thủ Lăng Nghiêm Phật đã nói.

OM ANALE VISADE VIRA VAJRA-DHARE BANDHA BANDHANI VAJRA-PANI PHAT HUM TRUM PHAT SOHA.
Đọc là: Ôm A-na-lê Vi-sa-đê Vi-ra Vaj-ra Đa-rê Ban-đa Ban-đa-ni Vaj-ra Pa-ni Phát Hum Trum phát Soha

Chú Lăng Nghiêm là thần chú uy lực bậc nhất trong Phật giáo, dùng để diệt trừ tà ma và loại bỏ những năng lượng tiêu cực. Thần chú Lăng Nghiêm cao thâm, vi diệu, có sức mạnh đến mức không chỗ nào trong không gian và toàn bộ pháp giới không tràn ngập bởi ánh sáng từ bi và trí tuệ của câu chú. Đây cũng là thần chú dài nhất trong tất cả các chú, là hành trang không thể thiếu của bất kỳ hành giả tu tập đạo Phật nào.

6. Thần chú của Phật Di Đà: 

OM AMI DEWA HRIH
Đọc là: Ôm A-mi Đê-goa Ri

“Hrih”đại diện cho những phẩm chất của Đức Phật Di Đà ở Tây Phương Cực Lạc,chủ yếu là thiền định và lòng từ bi.

7. Thần chú của Phật Thích Ca Mâu Ni

OM MUNI MUNI MAHA MUNIYE SOHA

Thần chú này nhằm tiêu diệt tội chướng, nhanh chóng giải thoát. Thần chú Phật Thích Ca Mâu Ni có thể được coi là tinh túy của Đức Phật, bản chất của sự giác ngộ của Ngài.

8. Thần chú Địa Tạng Bồ Tát: 

OM PRA MANI DHANI SOHA
Đọc là: Om Pra Ma-ni Đa-ni Soha
Thần chú Địa Tạng làm tiêu hết các nghiệp chướng đang mang.

9. Thần chú của vị thần tài Phật giáo Zambala

Zambala được coi là 1 vị Phật mang lại của cải, giàu sang.
Người ta cho rằng nếu gặp khó khăn hoặc lo âu trong tiền bạc, tài chính thì có thể niệm tên ngài Zambala hoặc trì tụng thần chú của ngài là: OM ZAMBALA JARDIN JAYA SOHA. [hoặc OM ZAMBALA ZALENDHRAYE SOHA]… thì sẽ được toại nguyện.

Quan niệm của Phật tử Tây Tạng trong việc thờ phụng hoặc thực hành trì chú Zambala là để xua tan sự lo âu, bất an về tiền bạc.

Dân gian thường gọi ngài là “Zambala – God of Wealth” (Zambala- vị thần của giàu sang).

Tại các vùng Tây Tạng, Trung Quốc, Ấn Độ… tôn tượng, chân dung hoặc chữ tâm chú của Ngài Zambala được người dân thờ phụng rất thành kính. Người ta cho rằng bày tỏ tâm thành, thờ cúng Ngài chu tất sẽ được thần Zambala mang đến tiền tài, giàu sang như ý cho bản thân cũng như gia đình.

10. Thần chú Bát Nhã Tâm Kinh

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh truyền đạt những bản chất tốt đẹp nhất của trái tim, sự liên kết giữa từ bi và trí tuệ. Trí tuệ hay Bát Nhã chỉ có thể sinh ra trong tâm an bình, trong sáng, tràn ngập lòng từ bi bắc ái.

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh chính là lời ghi nhớ ngắn gọn giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc và toàn bộ nhất về cuộc sống tâm linh của chính mỗi người. Từ thân thể đến cảm giác, suy nghĩ, ý thức, ý chí, cũng không gì ngoài tánh không.

GATE GATE PARAGATE PARASAMGATE BODDHI SOHA
Đọc là: Ga-tê Ga-tê Pa-ra-ga-tê Pa-ra sam-ga-tê Bo-đi Soha.

Ý nghĩa câu thần chú

Gate: suy ra từ động từ “gam”, nghĩa là đi

Pāragate: pāra là danh từ giống đực, có nghĩa là  sự mang qua; sự băng qua; khi giống trung, có nghĩa là bờ bên kia, sự đạt đến mức xa nhất. Cho nên pāragate là đã đi qua bờ bên kia.

Pārasaṃgate: tiền tố “saṃ” trước động từ có nghĩa là cùng nhau hay hoàn toàn, trọn vẹn. Như thế pārasaṃgate là đã đi hoàn toàn qua bờ bên kia.

 Bodhi: danh từ giống cái, có nghĩa là sự giác ngộ.

svāhā (ind) là tán thán từ, nguyên là từ dùng trong lễ hiến tế lên thần linh trong nghi thức tôn giáo ở Ấn độ, có thể hiểu như tiếng reo mừng, cảm thán.

bodhi svāhā  = Giác ngộ.

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là bài kinh vĩ đại nhất giúp chúng sanh loại bỏ mọi khổ đau. Khi hiểu được ý nghĩa thâm sâu của kinh Bát Nhã, chúng sanh sẽ thoát khỏi những khổ nạn, bi ai của đời sống, biết thế nào là giác ngộ Phật tánh, chân tu. Nền tảng của Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh chính là lòng từ bi nuôi dưỡng trí tuệ.

Thần chú trí tuệ chiếu phá vô minh, trừ dứt phiền não. Cũng nhờ trí tuệ ấy mà chứng được Vô Thượng Niết Bàn. Lại cũng nhờ trí tuệ ấy mà chứng được Vô Thượng Bồ Đề.

11. Thần chú Dược Sư 

Thần chú Dược sư là thần chú hạnh nguyện của Bồ Tát Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Ngài là bậc giác ngộ có lòng từ bi vô lượng đối với tất thảy chúng sinh. Ngài hộ trì cho chúng sinh tránh khỏi những đau đớn của bệnh tật và thoát khỏi mọi nguy hại. Những ai tụng niệm câu thần chú và tưởng  nhớ đến Ngài với lòng từ bi, trắc ẩn và một lòng hướng thiện thì họ sẽ thoát khỏi hiểm nguy, chướng ngại, đau đớn về thể xác và tâm hồn, diệt trừ mọi tam độc tham-sân-si, xoa sbor toàn bộ cội nguồn của bệnh tật và nguy hại. Ngài được tôn kính như một đáng Y Vương Toàn Giác.

Khi còn đang hành đạo Bồ Tát, Ngài đã phát ra 12 nguyện lớn có công năng cứu giúp hết thảy chúng sinh bị đói rách, bệnh tật, thân hình xấu xa, chuyển nữ thành nam… khiến họ được đầy đủ các thiện căn và thành tựu sở nguyện.

Câu thần chú Dược Sư phiên bản ngắn Tây Tạng : “Tayata Om Bekandze Bekandze Maha Bekandze Radza Samudgate Soha

  • Tayata: Đi quá giới hạn (ngoài Vòng luân hồi và Niết bàn)
  • Om: Một từ rất phổ biến gợi lên sức mạnh tinh thần và sự hiện diện tuyệt đối.
  • Bekandze Bekandze: Gọi Phật Dược Sư hai lần
  • Maha Bekandze: Đại đức Phật Dược Sư
  • Randza Samungate: Hoàn toàn giải phóng hoặc đánh thức
  • Soha: Hòa tan trong tôi.

12. Chú Vãng sanh tiếng Phạn 

Thần chú Vãng sanh có tên đầy đủ là Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sanh Tịnh độ Đà la ni. Vãng sanh Tịnh độ thần chú là mật ngôn được trì niệm phổ biến trong các khóa lễ Tịnh độ, cầu siêu. Thần chú vãng sanh được Bồ Tát Phổ Hiền vì thương xót chúng sinh đã nói Đà la ni này để trợ duyên được mau vãng sinh về Tịnh độ. Chú Vãng sanh có công năng vô cùng to lớn, có thể giúp giải trừ toàn bộ nghiệp lực căn bản để chúng sinh vãng sanh miền cực lạc.

Thần chú Vãng sanh như sau: “Nam mô a di đa bà dạ, đa tha già đa dạ, đa điệt dạ tha, a di rị đô bà tỳ, a di rị đa tất đam bà tỳ, a di rị đa tỳ ca lan đế, a di rị đa tỳ ca lan đa, già di nị, già già na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha”.

Người trì tụng chú Vãng sanh phải ăn chay giữ giới, thanh tịnh thân-khẩu-ý.  Tụng chú ngày đêm 6 thời, mỗi thời 21 biến. Như vậy có thể diệt trừ toàn bộ các tội tứ trọng, ngũ nghịch, thập ác và hủy báng chánh pháp. Sống cuộc đời an ổn, nhận nhiều phước lạc thời hiện tại. Khi trút hơi thở cuối cùng sẽ được tùy nguyện vãng sanh.

Phật giáo là một sự kết hợp thông thái, hài hòa giữa triết học và tôn giáo. Triết lý và giáo lý của Phật giáo rất sâu sắc, vi diệu, là chân lý tột đỉnh để giúp chúng ta ứng xử, đối phó phù hợp với cuộc sống hàng ngày đầy thử thách. Đạo Phật có 8 vạn 4 ngàn pháp môn. Vì vậy Đạo Phật có rất nhiều tông phái, và tất cả các tông phái này đều hướng con người đến giác ngộ và giải thoát.

13. Chú Đại Bi tiếng Phạn

Chú Đại Bi tiếng Phạn (Sanskit) là Mahākaruṇā Dhāraṇī. Chú Đại Bi hay còn gọi là Đại Bi Tâm Đà Na Ni, là bài chú căn bản minh họa công đức nội chứng của Đức Quán Tự Tại Bồ Tát. Theo kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn, Quan Thế Âm Bồ Tát vì nghĩ đến chúng sanh với tâm đại từ đại bi, Ngài mong muốn chúng sanh được an vui, diệt trừ được tất thảy bệnh tật, sống lâu, được giàu có, được tiêu trừ toàn bộ nghiệp chướng của nhiều đời nhiều kiếp, được chứng quả thành tựu công đức, được thành tựu tất cả thiện căn, không lo sợ hãi, được mong cầu đầy đủ như ý, Ngài đã nói ra câu thần chú này.

than-chu-dai-bi

Nguồn tham khảo:

  • Tongiaovadantoc.com
  • Hieennha.com
  • Vienchibao.com