Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa các giai đoạn, cấp độ của quá trình nhận thức?

Câu hỏi: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa các giai đoạn, cấp độ của quá trình nhận thức?

Đáp án:

Nhận thức là một quá trình biện chứng bao gồm nhiều giai đoạn, cấp độ đối lập nhưng thống nhất lẫn nhau.

1. Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

a) Nhận thức cảm tính

Nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) là giai đoạn thấp (ban đầu) của quá trình nhận thức. Nó phản ánh một cách trực tiếp, cụ thể, sinh động, hời hợt những đặc điểm, tính chất bề ngoài của sự vật vào trong bộ óc con người, và được thể hiện dưới ba hình thức cơ bản là cảm giác, tri giác và biểu tượng.

– Cảm giác là hình thức trực quan sinh động phản ánh từng đặc điểm, tính chất riêng lẻ, bề ngoài của sự vật khi sự vật tác động lên từng giác quan của chúng ta. Cảm giác là kết quả của sự chuyển hóa năng lượng kích thích bên ngoài thành yếu tố đầu tiên của ý thức bên trong bộ óc con người. Nó là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan, là nguồn gốc của mọi hiểu biết.

– Tri giác là hình thức trực quan sinh động được hình thành nhờ vào sự tổng hợp nhiều cảm giác về sự vật khi sự vật tác động lên nhiều cơ quan cảm giác. Vì vậy, tri giác mang lại hiểu biết đầy đủ hơn về sự vật và có sự can dự ban đầu của tư duy (lý tính).

– Biểu tượng là những hình ảnh trực quan sinh động (ấn tượng) được giữ lại trong trí nhớ (ký ức) do một nguyên do nào đó xuất hiện một cách rời rạt hay dưới dạng kết hợp trong ý thức mà không có sự tác động trực tiếp của sự vật lên giác quan của chúng ta. Biểu tượng chỉ bao gồm những nét chủ yếu, nổi bật nhất mà cảm giác mang lại trước đó. Hình thức cao nhất của biểu tượng là sự tưởng tượng. Do có tính chủ động, sáng tạo mà sự tưởng tượng có vai trò to lớn trong hoạt động khoa học và nghệ thuật. Biểu tượng tuy vẫn còn mang tính chất trực tiếp và cụ thể, sinh động của nhận thức cảm tính, nhưng nó đã bắt đầu mang tính chất gián tiếp và trừu tượng, khái quát của nhận thức lý tính. Nó là khâu trung gian giữa hai giai đoạn nhận thức này.

b) Nhận thức lý tính

Nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng) là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, được nảy sinh từ nhận thức cảm tính. Nó phản ánh một cách gián tiếp, trừu tượng, khái quát, sâu sắc những đặc điểm, tính chất, quan hệ bên trong của sự vật vào trong bộ óc con người và được biểu đạt bằng ngôn ngữ. Nhận thức lý tính mang tính năng động, sáng tạo được tiến hành thông qua các phương pháp so sánh – đối chiếu, trừu tượng hóa – khái quát hóa, phân tích

– tổng hợp…, và được thể hiện dưới ba hình thức cơ bản là khái niệm, phán đoán và suy luận.

– Khái niệm là hình thức tư duy phản ánh những tính chất, quan hệ (dấu hiệu) bản chất của đối tượng được suy nghĩ. Khái niệm là vật liệu chính tạo thành tư tưởng, là phương tiện chủ yếu để tích lũy, vận hành, trao đổi những thông tin, tri thức của con người. Khái niệm có nội hàm (tất cả các dấu hiệu bản chất của đối tượng) và ngoại diên (tất cả các phần tử mà đối tượng bao quát) biến động cùng với quá trình đào sâu và mở rộng của hoạt động thực tiễn – nhận thức nhân loại. Khái niệm là yếu tố quan trọng của tư duy khoa học. Hình thức ngôn ngữ biểu đạt khái niệm là từ (thuật ngữ).

– Phán đoán là hình thức tư duy phản ánh những tính chất, quan hệ của đối tượng được suy nghĩ dưới hình thức khẳng định hay phủ định và có một giá trị lôgích xác định (là đúng hay sai). Phán đoán là hình thức liên hệ, chuyển hóa lẫn nhau của các khái niệm, là sự biểu hiện của tư tưởng. Hình thức ngôn ngữ biểu đạt phán đoán là câu (mệnh đề).

– Suy luận là hình thức tư duy cho phép dựa vào một số phán đoán làm tiền đề rút ra một phán đoán mới làm kết luận. Suy luận là hình thức liên hệ, chuyển hóa lẫn nhau của các phán đoán, là công cụ tư duy dùng để đào sâu và xây dựng tri thức gián tiếp. Nhờ suy luận mà khoa học không ngừng phát triển, nhận thức của con người ngày càng đầy đủ, tinh xác, sâu sắc hơn. Suy luận có ba hình thức cơ bản là diễn dịch, quy nạp và loại suy. Trong quá trình suy luận, nếu chúng ta dựa trên các tiền đề xác thực (đúng) và tuân thủ mọi quy tắc lôgích có liên quan thì kết luận được rút ra bao giờ cũng đúng. Hình thức ngôn ngữ biểu đạt suy luận là đoạn (lập luận).

c) Mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

Khi khắc phục tính phiến diện của chủ nghĩa duy cảm (đề cao vai trò nhận thức cảm tính, hạ thấp vai trò nhận thức lý tính) và của chủ nghĩa duy lý (đề cao vai trò nhận thức lý tính, hạ thấp vai trò nhận thức cảm tính) chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là hai giai đoạn nhận thức đối lập nhau có đặc điểm, vai trò khác nhau, nhưng liên hệ mật thiết và hỗ trợ, thống nhất lẫn nhau: Nhận thức cảm tính là cơ sở, tiền đề của nhận thức lý tính. Nhận thức lý tính giúp định hướng và nâng cao độ chính xác của nhận thức cảm tính.
Nếu nhận thức chỉ dừng lại ở cảm tính thì không thể khám phá được bản chất, quy luật của đối tượng, còn nếu nhận thức chỉ xảy ra trong lĩnh vực lý tính thì có thể sa vào chủ nghĩa giáo điều, ảo tưởng viển vông; trong thực tế, chúng đan xen thống nhất lẫn nhau. Một trong những hình thức thể hiện sự đan xen, thống nhất đó là trực giác – năng lực trực tiếp nắm bắt chân lý mà không cần trải qua những lập luận lôgích . Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi trực giác là một hình thức nhận thức có tính bỗng nhiên (bất ngờ), trực tiếp và không ý thức được .
• Nắm vững quan điểm thống nhất giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính sẽ giúp khắc phục chủ nghĩa duy cảm, chủ nghĩa duy lý, giúp loại bỏ chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa giáo điều để đẩy mạnh hoạt động thực tiễn hiệu quả và nhận thức đúng đắn.
2. Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận
a) Nhận thức kinh nghiệm
Nhận thức kinh nghiệm là cấp độ thấp của quá trình nhận thức lý tính, được nảy sinh trực tiếp từ thực tiễn (lao động sản xuất, đấu tranh xã hội, thực nghiệm khoa học…) và mang lại tri thức kinh nghiệm.
Tri thức kinh nghiệm bị giới hạn ở lĩnh vực sự kiện và chủ yếu dừng lại trong việc miêu tả, so sánh, đối chiếu, phân loại sự kiện thu được nhờ quan sát và thí nghiệm. Là kết quả giao thoa giữa cảm tính và lý tính nên tri thức kinh nghiệm vừa cụ thể, sinh động, vừa trừu tượng, khái quát. Vì vậy, nó vừa có vai trò to lớn trong việc hướng dẫn sinh hoạt hằng ngày của con người, vừa là chất liệu ban đầu làm nảy sinh, phát triển lý luận khoa học. Kinh nghiệm là cơ sở không chỉ để kiểm tra, sửa đổi, bổ sung lý luận đã có mà còn để tổng kết, khái quát xây dựng lý luận mới. Có hai loại tri thức kinh nghiệm đan xen vào nhau trong quá trình phát triển nhận thức xã hội là tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học.
b) Nhận thức lý luận
Nhận thức lý luận là cấp độ cao của quá trình nhận thức lý tính. Mặc dù, lý luận nảy sinh từ trong quá trình tổng kết, khái quát kinh nghiệm, nhưng lý luận không hình thành một cách tự phát từ kinh nghiệm và cũng không phải mọi lý luận đều xuất phát từ kinh nghiệm. Do tính độc lập tương đối mà lý luận có thể xuất hiện trước dữ kiện kinh nghiệm.
Nhận thức lý luận mang lại tri thức lý luận có tính gián tiếp, tính trừu tượng, khái quát cao cho phép hiểu được cái chung, tất yếu, quy luật, bản chất sâu sắc, bên trong của đối tượng. Tri thức lý luận có độ chính xác cao hơn và phạm vi bao quát rộng hơn tri thức kinh nghiệm. Khi lý luận xâm nhập vào quần chúng, tức được vật chất hóa, thì nó biến thành sức mạnh vật chất. Vì vậy, lý luận có vai trò to lớn – “kim chỉ nam” trong việc chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động thực tiễn của con người; “Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng”. Tuy nhiên, lý luận cũng có thể xa rời thực tiễn, cuộc sống; khi đó nó trở thành ảo tưởng. Khả năng này càng lớn nếu nó là lý luận không khoa học và được bảo vệ bởi những lực lượng vật chất phản động.
c) Mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận
Nếu chủ nghĩa kinh nghiệm đề cao vai trò nhận thức kinh nghiệm, hạ thấp vai trò nhận thức lý lý luận, còn chủ nghĩa duy lý đề cao vai trò nhận thức lý luận, hạ thấp vai trò nhận thức kinh nghiệm, thì chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, kinh nghiệm và lý luận là hai trình độ nhận thức đối lập nhau nhưng có liên hệ biện chứng, thống nhất với nhau. Dù tri thức kinh nghiệm là cụ thể, sinh động, đầy tính thuyết phục, nhưng nó chỉ mang lại những hiểu biết về từng mặt, từng quan hệ riêng rẽ, rời rạt, bề ngoài; vì vậy, cần phải khắc phục nó (phủ định biện chứng) bằng cách xây dựng tri thức lý luận để có thể hiểu được cái tất yếu, quy luật, bản chất sâu sắc, bên trong của đối tượng.
• Khi nắm vững sự thống nhất biện chứng giữa nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận sẽ giúp xây dựng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để đẩy mạnh hoạt động nhận thức khoa học đúng đắn và hoạt động thực tiễn cách mạng hiệu quả. Nguyên tắc này là sự cụ thể hóa quan điểm thực tiễn, nó yêu cầu phải coi trọng cả kinh nghiệm thực tiễn lẫn lý luận, và biết gắn liền lý luận với thực tiễn.
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn không cho phép tuyệt đối hóa vai trò của kinh nghiệm mà sa vào chủ nghĩa kinh nghiệm, đặc biệt là chủ nghĩa kinh nghiệm giáo điều, nhưng cũng không cho phép cường điệu vai trò của lý luận mà sa vào chủ nghĩa giáo điều. Nó chỉ ra rằng, thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng, còn lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông.
3. Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học
a) Nhận thức thông thường
Nhận thức thông thường là cấp độ thấp nhất trong quá trình nhận thức. Nó phản ánh một cách sinh động tính muôn vẻ của môi trường tự nhiên – xã hội và quan hệ của con người với môi trường đó.
Nhận thức thông thường được hình thành một cách trực tiếp, tự phát từ trong cuộc sống lao động hàng ngày của con người và chi phối một cách thường xuyên mạnh mẽ hành vi hoạt động của con người, đồng thời, nó mang lại những vật liệu cần thiết cho sự hình thành nhận thức nghệ thuật, khoa học, triết học cũng như thế giới quan của con người. Nhận thức thông thường biến đổi nhanh chóng cùng với quá trình biến đổi của thực tiễn lịch sử – xã hội và mang tính giá trị rõ rệt đối với quá trình sống còn của con người. Bởi vì trong nó có cả những yếu tố tình cảm lẫn lý trí, sự thật lẫn hoang đường, tôn giáo lẫn khoa học.
b) Nhận thức khoa học
Nhận thức khoa học là cấp cao nhất trong quá trình nhận thức, được hình thành một cách tự giác. Tính trừu tượng, tính khái quát, tính gián tiếp, tính năng động sáng tạo của nó ngày càng cao và ngày càng phản ánh những kết cấu, thuộc tính, quy luật sâu sắc, bên trong của hiện thực khách quan dưới dạng các hệ thống lôgích chặt chẽ, nhất quán.
Nhận thức khoa học là thành quả vĩ đại nhất của trí tuệ con người trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới. Nó ngày càng chi phối mạnh mẽ hành vi hoạt động của con người và thâm nhập sâu vào mọi hình thái ý thức xã hội với tính cách là nội dung khoa học của các hình thái ý thức xã hội này.
Nhận thức khoa học mang tính khách quan hướng đến việc nghiên cứu khách thể vận động, phát triển theo quy luật khách quan. Do dựa trên sự thật kinh nghiệm và lý trí, nên nhận thức khoa học đối lập với lòng tin, tín ngưỡng hoang đường của tôn giáo. Nhận thức khoa học mang lại tri thức khách quan, có hệ thống và có căn cứ – chân lý. Tính chân lý của nhận thức khoa học được chứng minh không chỉ dựa vào sự áp dụng chúng vào thực tiễn, mà bản thân khoa học còn tạo ra các phương thức chứng minh, các tiêu chuẩn chân lý riêng khác (tính phi mâu thuẫn lôgích) để kiểm tra tính chân lý của tri thức do mình mang lại. Khoa học phản ánh hiện thực khách quan dưới dạng một hệ thống các cái trừu tượng – các khái niệm, phạm trù, quy luật, có liên hệ lôgích chặt chẽ, nhất quán với nhau và được diễn đạt thông qua hệ thống ngôn ngữ khoa học mang tính chuyên môn hóa. Nhận thức khoa học luôn đòi hỏi một hệ thống các phương tiện, phương pháp nghiên cứu chuyên môn hóa và những nhà khoa học có tài năng, phẩm chất đạo đức cao. Khoa học ngày càng gắn liền với thực tiễn, đồng thời chịu sự chi phối trực tiếp và mạnh mẽ từ thực tiễn. Khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Tốc độ phát triển hiện nay của xã hội phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển của khoa học.
c) Mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức thông thường và nhận thức khoa học
Dù bản thân nhận thức thông thường là nguồn chất liệu để xây dựng nội dung của các khoa học, nhưng nó không thể tự phát triển thành nhận thức khoa học. Khoa học chỉ xuất hiện thật sự khi có những nhà khoa học, những chuyên gia lý luận có năng lực khái quát, tổng kết, mở rộng, đào sâu tri thức thông thường. Ngược lại, sự phát triển khoa học hướng đến giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ do thực tiễn, cuộc sống đặt ra làm cho nhận thức khoa học thâm nhập vào nhận thức thông thường mà kết quả là làm tăng hàm lượng khoa học cho nhận thức nói chung, thúc đẩy sự phát triển của nhận thức thông thường nói riêng.
• Quán triệt sự thống nhất giữa nhận thức thông thường và nhận thức khoa học có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng. Nó đòi hỏi chúng ta phải: Coi trọng khoa học và công nghệ; Đưa khoa học và công nghệ vào đời sống; Đẩy mạnh quá trình vật chất hóa tri thức khoa học tiên tiến, quần chúng hóa quan điểm khoa học cách mạng, nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân. Điều này không chỉ góp phần khắc phục sự lạc hậu nghèo nàn mà loại bỏ những thói quen tập quán cổ hủ, những quan niệm duy tâm thần bí, những đầu óc mê tín dị đoan đang chi phối suy nghĩ và hành động của đông đảo quần chúng nhân dân ngăn cản bước tiến của xã hội.