Phân tích nội dung hình thái ý thức thẩm mỹ, ý thức tôn giáo và ý thức khoa học

Câu hỏi: Phân tích nội dung hình thái ý thức thẩm mỹ, ý thức tôn giáo và ý thức khoa học

Đáp án:

1. Ý thức thẩm mỹ

Ý thức thẩm mỹ là sự phản ánh hiện thực vào ý thức con người trong quan hệ với nhu cầu thưởng thức và sáng tạo cái đẹp.

Khác với nhiều hình thái ý thức khác, ý thức thẩm mỹ phản ánh thế giới hiện thực một cách cụ thể và sinh động bằng các hình tượng nghệ thuật. Các hình thái này cũng phản ánh cái bản chất của đời sống hiện thực, nhưng thông qua cái cá biệt, cái điển hình cụ thể, cảm tính, sinh động. Không thể tách biệt các yếu tố cảm tính và lý tính trong ý thức nghệ thuật, vì rằng, bất kỳ hình tượng nghệ thuật nào cũng hòa quyện trong đó cả giá trị nghệ thuật, thẩm mỹ, lẫn các giá trị nhận thức, tư tưởng, đạo đức.

Xét đến cùng, cả giá trị nội dung lẫn hình thức của nghệ thuật đều phản ánh tồn tại hiện thực, một sự phản ánh mang tính độc lập tương đối rõ nét, do đó, không phải bao giờ nghệ thuật cũng phản ánh tồn tại hiện thực một cách trực tiếp và dễ thấy. C.Mác viết: “Đối với nghệ thuật, người ta biết rằng những thời kỳ hưng thịnh nhất của nó hoàn toàn không tương ứng với sự phát triển chung của xã hội, do đó cũng không tương ứng với sự phát triển của cơ sở vật chất của xã hội, cơ sở này dường như cấu thành cái xương sống của tổ chức xã hội” .

Nghệ thuật chân chính bao giờ cũng gắn bó mật thiết với đời sống hiện thực của nhân dân, có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ tiến bộ xã hội, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu thẩm mỹ của con nguời, cổ vũ những hành vi đạo đức và tính tích cực, sáng tạo của con người.

Trong xã hội có giai cấp, nghệ thuật mang tính giai cấp, chịu sự tác động của thế giới quan, tư tưởng chính trị, đạo đức của giai cấp này hay giai cấp khác. Quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật là quan niệm xuyên tạc sự thật.
Giai cấp công nhân và chính đảng của nó luôn hướng nghệ thuật vào cuộc đấu tranh giải phóng người lao động, các dân tộc bị áp bức, để tiến tới xây dựng một chế độ xã hội mới tốt đẹp. Nguyên tắc tính đảng cộng sản được coi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt nghệ thuật XHCN. Nó không hạn chế mà trái lại đòi hỏi và cho phép phát triển mọi tài năng sáng tạo của người nghệ sĩ. Nhấn mạnh tính giai cấp của nghệ thuật trong xã hội có giai cấp, chủ nghĩa Mác – Lênin còn đòi hỏi khẳng định và phát huy tính năng động chung được phản ánh trong nghệ thuật. Các giá trị của nghệ thuật tiến bộ và cách mạng gắn liền với giai cấp này hay giai cấp khác không mâu thuẫn với tính nhân loại, mà còn làm sâu sắc và phong phú các giá trị toàn nhân loại.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn đánh giá cao vai trò của văn nghệ, của các văn nghệ sĩ, đồng thời cũng đòi hỏi ở văn nghệ và văn nghệ sĩ trách nhiệm nặng nề đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Ý thức tôn giáo

Giải thích nguồn gốc và bản chất của tôn giáo là một trong những vấn đề phức tạp của triết học. Chủ nghĩa duy tâm và các tôn giáo đã và sẽ còn giải thích một cách sai lầm, xuyên tạc về vấn đề này.
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh thế giơi một cách hoang đường, hư ảo, thần thánh hóa bằng các tín điều. Ph.Ăngghen viết: “Bất tôn giáo nào cũng đều là sự phản ánh hư ảo vào đấu óc người ta sức mạnh ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh mà trong đó sức mạnh ở thế gian đã mang hình thức sức mạnh siêu thế gian” .

Nguồn gốc tôn giáo gồm có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội, và xét đến cùng đều gắn liền với tồn tại xã hội. Đó là:

– Sự bất lực và sợ hãi của con người trước những sức mạnh của tự nhiên chưa được nhận thức và chế ngự là nguồn gốc nhận thức của tôn giáo.

– Sự bất lực, sợ hãi và đau khổ của con người trong điều kiện xã hội có áp lực, bóc lột là nguồn gốc xã hội của tôn giáo. Trong điều kiện ấy, các quy luật xã hội biểu hiện ra như là những lực lượng mù quáng, tự phát, trói buộc con người thường xuyên quyết định số phận của họ. Cho nên họ cũng cảm nhận các lực lượng hiện thực này của xã hội dưới hình thức thần bí hóa của lực lượng siêu nhiên. Khi bàn về xã hội tư sản, V.I.Lênin viết: “Sự sợ hãi đã tạo ra thần linh, sợ hãi trước thế lực mù quáng của tư bản, mù quáng vì quần chúng nhân dân không thể đoán trước được nó, là thế lực bất cứ lúc nào trong đời sống của người vô sản và người tiểu chủ, cũng đe dọa đem lại cho họ và đang đem lại cho họ sự phá sản “đột ngột”, “bất lực”, “ngẫu nhiên”, làm cho họ phải diệt vong, biến họ thành một người ăn xin, một kẻ bần cùng, một gái điếm và dồn họ vào cảnh chết đói, đó chính là nguồn gốc xấu xa của tôn giáo hiện đại mà người duy vật phải chú ý đến trước hết và trên hết, nếu người ấy không muốn cứ mãi mãi là một người duy vật sơ đẳng” .

Là môt hình thái ý thức xã hội, tôn giáo bao gồm cả tâm lý tôn giáo và hệ tư tưởng tôn giáo. Tâm lý tôn giáo là những tình cảm, niềm tin, tập quán, biểu tượng tín ngưỡng, tôn giáo… Hệ tư tưởng tôn giáo là hệ thống giáo lý do các giáo sĩ, các nhà thần học tạo ra và truyền bá trong xã hội.

Bản chất của ý thức tôn giáo được phân tích từ quan điểm lý luận và phương pháp luận Mác – Lênin chính là sự phân đôi một cách hư ảo thế giới hiện thực vốn thống nhất thành hai thế giới – thế giới trần tục và “thế giới bên kia”. Mọi tôn giáo đều ảo tưởng cho rằng, khổ đau, bất hạnh, ngang trái trên đời này sẽ được giải quyết một cách triệt để ở “thế giới bên kia”, ở “kiếp sau”. Tôn giáo đã và sẽ còn ảnh hưởng to lớn đến đời sống xã hội. Mặt nhân văn của tôn giáo là đền bù – hư ảo và cũng hướng thiện cho con người. Mặc tiêu cực của tôn giáo là đối lập với khoa học, hơn nữa, kiềm hãm các nỗ lực chân chính của con người có thể và cần phải vươn lên nhận thức và cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân mỗi người. Chính mặt tiêu cực của tôn giáo luôn được các giai cấp bóc lột thống trị xưa nay lợi dụng như một công cụ áp bức tinh thần, như phương tiện để củng cố địa vị thống trị của họ.

Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng điều kiện tiên quyết để khắc phục tôn giáo là phải xóa bỏ cả nguồn gốc nhận thức lẫn nguồn gốc xã hội. Chỉ có sự nghiệp cách mạng XHCN sâu sắc và triệt để nhất mới có thể làm được việc đó. Coi trọng tự do tín ngưỡng và đoàn kết tôn giáo là chính sách nhất quán của Đảng ta trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Đại hội IX (2001) của Đảng nêu rõ: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng va bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt bình thường theo đúng pháp luật. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao đời sống của đồng bào. Đồng bào theo đạo và các vị chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân đối với tổ quốc, gắng “tốt đời, đẹp đạo”, phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hóa và đạo đức của tôn giáo. Từng bước hoàn thiện luật pháp về tín ngưỡng tôn giáo.

Nghiêm cấm sử dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia” .

3. Ý thức khoa học

a) Khoa học như một hình thái ý thức xã hội
Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học là hệ thống các tri thức chân thực về thế giới đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn. Đối tượng phản ánh của khoa học rộng hơn bất cứ hình thức ý thức xã hội nào khác, đó là tất cả các hiện tượng và quá trình tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Nôi dung căn bản của khoa học là các quy luật khách quan vốn có của thế giới được chứng minh từ lý thuyết đến thực tiễn. Hình thức biểu hiện chủ yếu của các tri thức khoa học là hệ thống các phạm trù, định luật, quy luật, nguyên lý. Tri thức khoa học có thể và cần phải xâm nhập vào tất cả các hình thái ý thức xã hội để hình thành nên các khoa học tương ứng với từng hình thái ý thức đó, ví dụ như luật học, đạo đức học, lý luận nghệ thuật, tôn giáo học,…

b) Kết cấu của tri thức khoa học
Tuỳ theo đối tượng nghiên cứu, khoa học được chia thành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học nhân văn, khoa học về tư duy. Tuy nhiên, dựa vào đối tượng cụ thể mà có các chuyên ngành khoa học cụ thể. Còn những vấn đề chung, những quy luật chung của tự nhiên, xã hội và tư duy là đối tượng nghiên cứu của triết học với tư cách là khoa học về thế giới quan và phương pháp luận chung.
Xét vai trò tác động, khoa học được chia thành khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng. Khoa học cơ bản vạch ra các quy luật, phương hướng, phương pháp chung cho các khoa học ứng dụng. Khoa học ứng dụng vạch ra các nguyên tắc, quy tắc, phương pháp cụ thể để ứng trực tiếp trong thực tiễn đời sống.

Với mỗi khoa học, có thể có hai cấp độ tri thức: tri thức kinh nghiệm – những tư liệu hiện thực được tích lũy và tổng kết thực tiễn từ các quan sát, thử nghiệm; tri thức lý luận – kết quả của trừu tượng hóa và khái quát hóa từ tri thức kinh nghiệm, được thể hiện trong các hệ thống các phạm trù, định luật, nguyên lý xác định.
Sự phân chia các cấp độ trong kết cấu các tri thức khoa học chỉ là tương đối vì khoa học cùng với thực tiễn càng tiến lên thì các cấp độ tri thức khoa học nói trên càng nguyện chặt với nhau.

c) Các giai đoạn phát triển của khoa học

• Giai đoạn 1 bắt đầu từ thời cổ đại cho đến thế kỷ XV. Ở giai đoạn này, khoa học như còn “thai nghén”, vừa rất sơ khai, vừa hạn hẹp trong một số lĩnh vực: cơ học, toán học, thiên văn học nhằm đáp ứng trực tiếp các nhu cầu thủy lợi, hàng hải, xây dựng, kiến trúc… khoa học chưa ảnh hưởng bao nhiêu tới sản xuất. Đặc biệt, trong “đêm trường trung cổ” phong kiến, các phát minh khoa học được coi là tội lỗi, là “tà đạo” và bị trừng phạt bởi Nhà thờ cấu kết với nhà nước. Trong khuôn khổ phương thức sản xuất phong kiến, nền kinh tế vẫn mang nặng tính tự nhiên, vẫn tiếp tục sử dụng công cụ thủ công trong giới hạn kỷ xảo cá nhân và kinh nghiệm của con người thợ cả.

• Giai đoạn 2 bắt đầu tư cuối thế kỳ XV đến hết thế kỷ XIX, gồm 2 thời kỳ:

+ Thời kỳ thứ 1 bắt đầu từ Côpenic và kết thúc ở Niutơn. Đặc điểm của thời kỳ này là các khoa học lần lượt đi sâu vào nghiên cứu các lĩnh vực của hiện thực, đề cao thực nghiệm và suy lý, tuyên chiến với các giáo điều, công khai hoài nghi tất cả các dự đoán chưa được chứng minh bằng thực nghiệm hoặc bằng suy lý chắc chắn. Cơ học cổ điển lần đầu tiên đạt tới đỉnh cao với tên tuổi Niutơn. Trong bối cảnh ấy, phương pháp tư duy siêu hình giữ vai trò thống trị trong triết học lẫn trong các khoa học, Nhưng mặt khác, sự phát triển của triết học duy vật và của các khoa học đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chống lại chế độ phong kiến lỗi thời, thúc đẩy sự ra đời và phát triển của CNTB ở phương Tây.

+ Thời kỳ thứ 2 bắt đầu từ giả thuyết về sự hình thành thái dương hệ của Cantơ và kết thúc với các thành tựu khoa học tự nhiên xuất sắc nhất ở thế kỷ thứ XIX như thuyết tế bào, thuyết tiến hóa các giống loài, định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng. Đặc điểm của khoa học thời nay là phát triển theo hướng phá vỡ quan niệm siêu hình về các đối tượng nghiên cứu, công khai gạt bỏ cái gọi là “sự sáng tạo”của Chúa ra khỏi khoa học, và ngày càng gắn chặt với sản xuất. Cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên là sự phát triển mạnh tri thức khoa học xã hội theo hướng đề cao chủ nghĩa nhân văn, đề cao tinh thần dân chủ, thoát dần ảnh hưởng của thần học. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học về tự nhiên và về xã hội thời này là động lực mạnh mẽ thúc đẩy tiến trình tư sản hóa ở phương Tây, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa, thúc đẩy quá trình ra đời và trưởng thành của giai cấp vô sản công nghiệp, và do đó, thúc đẩy sự ra đời và phát triển học thuyết Mác – hệ tư tưởng khoa học và cách mạng của giai cấp vô sản.

• Giai đoạn 3 – thế kỷ XX: Đặc điểm của giai đoạn này không chỉ là sự gia tăng vượt bật của mọi tri thức khoa học, mà còn là sự gia tăng rõ rệt vai trò của khoa học đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Các khoa học lần lượt tham gia vào cưộc cách mạng khoa học – kỹ thuật, và ở 30 năm cuối thế kỷ XX thì tham gia vào cách mạng khoa học – công nghệ, vô luận là khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học nhân văn. Dự báo thiên tài của Mác từ thếc kỷ XIX “khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp” đã thành hiện thực. Hàm lượng khoa học vật hóa trong các sản phẩm tăng nhanh chưa từng thấy và ngày càng rõ ý nghĩa sống còn trong điều kiện kinh tế tri thức và toàn cầu hóa hiện nay. Một đặc điểm nữa của khoa học hiện đại là đồng thời diễn ra mạnh mẽ hai quá trình phân ngành và hợp ngành trong khoa học. Nỗ lực bao trùm của quá trình hợp ngành là khuynh hướng tiến tới nhất thể hóa toàn bộ các tri thức khoa học thành một lực lượng trí tuệ thống nhất để nhận thức và cải tạo thế giới một cách hiệu quả nhất.

Trong bối cảnh đó, bản thân các hoạt động khoa học cũng trở thành một ngành sản xuất mới với quy mô ngày càng rộng lớn (các viện, phòng thí nghiệm, trạm, trại, xí nghiệp,…) thu hút ngày càng nhiều các cán bộ khoa học và kinh phí đầu tư.

Đảng ta từ nghị quyết TW 2 khóa VIII (1996) đã khẳng định khoa học – công nghệ cùng với giáo dục – đào tạo là những “quốc sách hàng đầu” nhằm tạo động lực mạnh mẽ để công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, phấn đấu tới năm 2020 căn bản hoàn thành công nghiệp hóa theo hướng hiện đại hóa đất nước.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *